Bơm ly tâm thủy lực phù hợp với các loại động cơ lai tốc độ lớn như động cơ điện, tuốc bin hơi và khí. Bơm ly tâm có kết cấu gọn nhẹ hơn so với bơm piston có cùng sản lượng.


1. Ưu điểm, nhược điểm của bơm li tâm thủy lực.


Khu vực cột áp chất lỏng thấp và trung bình với lưu lượng lớn thì dùng bơm ly tâm.


* Ưu điểm của bơm ly tâm

  • Có lưu lượng đều và ổn định với cột áp không đổi.
  • Kích thước nhỏ gọn và trọng lượng bé hơn so với bơm piston.
  • Cho phép nối trực tiếp với động cơ cao tốc không qua hộp giảm tốc (Trị số vòng quay có thể đạt đến 40,000 vòng/phút).
  • Thiết bị đơn giản.
  • An toàn lúc làm việc.
  • Ít nhạy cảm với chất lỏng có chứa các loại hạt rắn.
  • Khối lượng sửa chữa thường kỳ nhỏ vì ít các chi tiết động.
  • Điều chỉnh lưu lượng đơn giản.

Nhờ các ưu điểm trên, bơm ly tâm được ứng dụng rộng rãi trên tàu thuỷ để chuyển chất lỏng.





Các bơm ly tâm thủy lực lưu lượng lớn không có thiết bị tự hút thường đặt dưới mực chất lỏng được bơm (có cột nước dâng).


Bơm ly tâm thủy lực tự hút dùng trong các thiết bị không có cột áp dâng để phục vụ đối tượng không yêu cầu cung cấp chất lỏng ngay sau khi làm việc.


* Nhược điểm của bơm ly tâm

  • Không có khả năng tự hút (Trước khi khởi động bơm cần điền đầy chất lỏng vào bánh cánh và đường ống hút) nên làm tăng giá thành và thiết bị của bơm thêm phức tạp.
  • Hiệu suất thấp khi vòng quay nhỏ.
  • Hiệu suất của bơm giảm nhiều khi độ nhớt của chất lỏng cần bơm tăng lên.
  • So với bơm piston, kích thước đường ống hút của bơm ly tâm đòi hỏi lớn hơn.
  • Có sự phụ thuộc giữa hiệu suất của bơm đến chế độ làm việc của nó.

2. Khai thác bơm li tâm thủy lực


a. Vận hành bơm li tâm thủy lực


* Trước khi khởi động


– Cần tiến hành quan sát bên ngoài bơm.


– Bôi trơn đầy đủ các chi tiết làm việc (các ổ bi).


– Quay cánh bơm vài vòng để kiểm tra bánh cánh và trục bơm xem có vật cản không (Bằng cách quay thử ở khớp nối giữa bơm và động cơ).


– Mở van xả khí và các van trên đường ống hút của bơm, điền đầy chất lỏng vào đường ống hút và bơm.


– Mở van dẫn chất lỏng đến chân không kế, áp kế và van dẫn chất lỏng đến đệm làm kín nước (ở đầu trục).


– Khi thấy chất lỏng chảy ra nhiều và liên tục ở van xả không khí thì đóng lại vì lúc đó chất lỏng đã điền đầy đường ống hút và vỏ bơm.


– Đối với những bơm có lắp thiết bị tạo chân không trong đường ống hút không cần điền đầy chất lỏng trước khi khởi động.


Chính sách bảo hành máy bơm ly tâm trục ngang SPRO* Khởi động bơm


– Khởi động động cơ và tăng dần vòng quay đến vòng quay định mức, áp kế sẽ chỉ áp lực phù hợp với hành trình không tải.


– Mở dần van xả.


– Lượng tiêu thụ công suất lúc hành trình không tải bằng 0.35-0.5 so với công suất tiêu chuẩn của động cơ.


– Khi khởi động van xả có thể đóng trong vài phút, đóng lâu thì công suất trên trục bơm truyền cho công chất sẽ biến thành nhiệt làm nóng các chi tiết làm việc của bơm, dẫn tới dãn nở nhiệt lớn, gây hư hỏng cho bơm.


* Sau khi khởi động bơm cần quan sát


– Sự làm việc của bơm qua các thiết bị chỉ thị (áp kế, nhiệt kế..).


– Sự rò lọt chất lỏng qua bộ làm kín cổ trục.


– Quan sát sự làm việc của hệ thống bôi trơn (nếu có), không để mất sự tuần hoàn của dầu nhờn.


– Xả định kỳ không khí ở vỏ bơm qua van xả không khí (Nếu thấy áp lực tụt hoặc áp suất dao động).


* Dừng bơm


– Tắt động cơ lai.


– Đóng van ở đường ống xả và đường ống hút.


– Đóng các van áp kế và chân không kế.





b. Các sự cố thường gặp đối với bơm ly tâm và cách khắc phục


Nếu bơm không cung cấp chất lỏng thì có thể do các nguyên nhân sau:

  • Bơm đặt quá cao trên mặt thoáng chất lỏng cần bơm.
  • Van xả đang đóng.
  • Bơm và đường ống hút của bơm trước khi khởi động không được nạp đầy đủ chất lỏng.
  • Chất lỏng bị đóng băng ở ống hút và các van.
  • Có rác ở đường ống hút và phin lọc.
  • Van thông biển chưa mở.
  • Tăng sức cản thuỷ lực trong đường ống hút và ống đẩy (Quá bẩn).
  • Có chỗ rò lọt không khí trên đường ống hút, vỏ bơm, bộ làm kín.
  • Nhiệt độ chất lỏng cần bơm quá cao.
  • Các van trên đường ống hút không mở hoàn toàn.
  • Trị số vòng quay bánh cánh của bơm không đạt yêu cầu.
  • Miệng hút của đường ống hút đặt quá gần với đáy bể hút.
  • Chiều quay của bơm không đúng (thường do động cơ điện lai bơm quay ngược).
  • Đặc tính bơm không phù hợp với đặc tính đường ống.
  • Chiều cao hút tĩnh không phù hợp với tính chất xâm thực của bơm.

Nếu bơm không đủ lưu lượng hoặc từ từ giảm lưu lượng đến không, nghiã là sự cung cấp chất lỏng bị gián đoạn thì có thể do các nguyên nhân kể trên và thêm:

  • Do các cánh bị hỏng.
  • Chiều cao mặt thoáng so với miệng hút của bơm quá thấp làm cho bơm hút cả chất lỏng và không khí vào.
  • Xảy ra chuyển động chiều trục trong bánh công tác.
  • Giảm trị số vòng quay ở trục động cơ.
  • Van hút không mở hết cỡ.

Nếu động cơ lai bơm làm việc quá tải có thể do

  • Các chi tiết dẫn dòng của bơm bị bẩn.
  • Bị kẹt trục do các bệ đỡ và hỏng hóc cơ khí.
  • Chuyển động dọc trục quá lớn làm thiết bị làm kín đầu mút cánh bị mòn, làm bánh cánh tiếp xúc với bề mặt bên trong của vỏ bơm.
  • Lực dọc trục quá lớn.
  • Trọng lượng riêng và độ nhớt của chất lỏng được bơm lớn hơn các thông số thiết kế bơm.

Nếu bơm không đạt đựoc cột áp cần thiết có thể do vòng quay không đảm bảo, do bánh cánh và thiết bị làm kìn bị mòn.


Vỏ bơm rung nhiều có thể do:

  • Bu lông bệ máy bị yếu.
  • Biến dạng đường trục của bơm và động cơ hoặc độ võng của chúng lớn hơn giới hạn cho phép.
  • Có khe hở trong khớp nối trục.
  • Bệ máy yếu.
  • Bánh cánh cân bằng không tốt.
  • Trục bơm bị uốn.
  • Cong vênh các chi tiết quay do độ bền hoặc do lắp ráp.
  • Chạm bánh cánh lên vỏ bơm do mòn.
  • Trị số vòng quay gần với vòng quay tới hạn.
  • Lọt các vật rắn vào chi tiết dẫn dòng của bơm
  • Có xâm thực trong bơm.

Vỏ bơm bị nóng có thể do:

  • Nén quá mức hoặc nén không đều các vòng làm kín đầu trục.
  • Cong vênh trục làm cánh chạm vào vỏ bơm.
  • Khe hở bộ làm kín đầu mút cánh quá nhỏ.
  • Khe hở giữa bạc và trục bơm quá bé.

Trong bơm ly tâm khuyết tật hay gặp là nóng bệ đỡ trục bơm, điều này xảy ra vì.

  • Nén quá căng hoặc bạc bị hỏng.
  • Trục bơm bị cong.
  • Sự dịch chuyển dọc trục của trục động cơ và của bơm quá lớn hoặc bị uốn quá mức cho phép.
  • Thiết bị bôi trơn không làm việc.
  • Dầu bôi trơn chảy ra khỏi gối trục.
  • Không đủ lượng dầu bôi trơn cần cung cấp.
  • Chất lượng dầu bôi trơn kém và dầu bị cháy.

Nguồn : http://maynenkhimini.e-monsite.com/b...ruc-ngang.html